Hiển thị các bài đăng có nhãn TIẾNG VIỆT. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn TIẾNG VIỆT. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 17 tháng 11, 2014

THÔNG TIN ĐỌC THÊM VỀ NGUYÊN TẮC TÍCH HỢP TRONG NỘI DUNG DẠY HỌC TIẾNG VIỆT Ở TIỂU HỌC




Tích hợp nghĩa là tổng hợp trong một đơn vị học, thậm chí một tiết học, một bài học nhiều mảng kiến thức và kỹ năng liên quan với nhau nhằm tăng cường hiệu quả GD, tiết kiệm thời gian học tập cho người học. Quan điểm tích hợp thể hiện rõ trong SGK TViệt TH có thể theo chiều ngang hoặc theo chiều dọc.
* Tích hợp theo chiều ngang là tích hợp kiến thức giữa tiếng Việt với các mảng kiến thức về văn học, thiên nhiên, con người và xã hội theo nguyên tắc đồng quy. Chẳng hạn hướng tích hợp này được SGK TV lớp 2 thể hiện thông qua hệ thống 15 chủ điểm:
- Tập 1: Em là HS- Bạn bè- Trường học- Thầy cô- Ông bà- Cha mẹ- Anh em và Bạn
trong nhà. Tập trung vào các mảng: HS- Nhà trường- GDục.
- Tập 2: Bốn mùa- Chim chóc- Muông thú- Sông biển- Cây cối- Bác Hồ- Nhân dân. Tập trung vào các mảng: Thiên nhiên – Cây cối.
SGK đã hướng dẫn các lĩnh vực vào đời sống. Qua đó tăng cường vốn từ, khả năng diễn đạt về mọi lĩnh vực Nhà trường- Gia đình- Xã hội giúp các em hiểu được thế giới xung quanh soi vào thế giới tâm hồn mình.Theo quan điểm tích hợp, các phân môn (Tập đọc, Kể chuyện, Tập viết, LTVC, Tập làm văn) trước đây ít gắn bó với nhau, nay được tập hợp lại xung quanh trục chủ điểm và các bài đọc; các nhiệm vụ cung cấp kiến thức và rèn luyện kỹ năng cũng gắn bõ chặt chẽ với nhau hơn trước.
SGK TV lớp 2 có chủ điểm: “Em là HS”. Mở đầu chủ điểm là bài: “Lý lịch” để GD HS biết những điều cơ bản và rất gần gũi về bản thân, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của HS. Đây là chủ điểm mới thể hiện rất rõ tính nhân văn, rất gần gũi với HS.
* Tích hợp theo chiều dọc là tích hợp một đơn vị kiến thức và kỹ năng với đơn vị kiến thức và kỹ năng đã học trước đó theo nguyên tắc đồng tâm (còn gọi là đồng trục hay vòng tròn xoáy trôn ốc). Cụ thể là: kiến thức và kỹ năng của lớp trên, bậc học trên bao hàm cả kiến thức và kỹ năng của lớp dưới, nhưng cao hơn, sâu hơn kiến thức và kỹ năng của lớp dưới, bậc học dưới. Điều này ở phân môn Tập đọc thể hện rất rõ.
- Ví dụ: Về kiến thức: Ở lớp 1 cũng như lớp 2, toàn bộ các bài học đều được xây dựng theo các chủ điểm Nhà trường, Gia đình, Xã hội và Thiên nhiên. Ở lớp 1, thời gian dành cho mỗi đơn vị học là một tuần; các chủ điểm lần lượt trở lại theo kiểu đồng tâm xoáy trôn ốc; mỗi lần trở lại là một lần được khai thác sâu hơn. Đến lớp 2, mỗi chủ điểm nói trên được chia thành nhiều chủ điểm nhỏ, tạo điều kiện cho HS hiểu biết sâu hơn nữa. Ví dụ: chủ điểm gia đình bao gồm 4 chủ điểm nhỏ là Ông bà, Cha mẹ, Anh em và Bạn trong nhà. Mỗi chủ điểm nhỏ được học trong 2 tuần và chỉ xuất hiện 1 lần.
Về kỹ năng: Từ chỗ biết đọc trơn và đọc nhẩm ở lớp 1, HS lớp 2 được rèn luyện kỹ năng đọc thầm và bước đầu biết đọc lướt nắm ý trả lời câu hỏi; từ chỗ biết nói 1 số câu đơn giản gắn với âm, vần đã học, HS có thể đặt câu theo mẫu đã cho và nói về bản thân, gia đình, bạn bè, trường lớp... bằng 1 số câu đơn giản. Tính đồng tâm không thể hiện trong 1 bậc học mà còn thể hiện rõ trong 1 lớp, trong 1 học kỳ theo nguyên tắc hệ thống.
Dĩ nhiên trong tích hợp vẫn có điểm nhấn. Không nắm được điểm nhấn này, GV dễ hiểu lệch yêu cầu tích hợp, dẫn tới chỗ sa đà, ví dụ biến giờ day Tập đọc thành giờ học Đạo đức hay thành giờ học lý thuyết văn miêu tả...Để nắm vững trọng tâm của mỗi tiết học, bài học, GV nên đọc kỹ phần MĐYC của mỗi tiết, mỗi bài nêu trong SGV.
Trên cơ sở định hướng của Chương trình và SGK ta thấy SGK TV thực hiện việc tích hợp theo các hướng chính sau:
- Tích hợp kiến thức thông qua các hệ thống chủ điểm (nội dung các bài đọc được thiết lập theo chủ điểm và chương trình là một hệ thống các chủ điểm về các vấn đề gần gũi với trẻ như gia đình, trường học).
- Tích hợp các kỹ năng học tập (các bài học đều chú ý rèn luyện cả 4 kỹ năng: nghe- nói- đọc- viết, kết hợp dạy thực hành các kỹ năng trên với dạy tri thức T: ở lớp 4,5 tuy đã có bài dạy tri thức TV riêng, song các bài này vẫn được thực hiện trên cơ sở thực hành đọc, viết, nghe, nói. Tuy nhiên trong đó có 1 kỹ năng trung tâm, các kỹ năng khác được rèn luyện phối hợp và có tác dụng bổ trợ cho kỹ năng chính).
- Các phân môn như Tập đọc, Chính tả, Tập viết, Kể chuyện...tập hợp quanh trục chủ điểm và các bài đọc.
Trong thực tiễn, khi thực hiện SGK TV được biên soạn theo CT TH mới, GV gặp nhiều thuận lợi nhưng cũng không ít khó khăn. Cụ thể là:
- Thuận lợi: Không chỉ dạy TV mà còn tích hợp kiến thức, kỹ năng các môn học khác: những bài học của các môn học khác có ngữ liệu thích hợp với môn TV được coi là những tình huống để rèn luyện kỹ năng sử dụng TV. Thông qua việc thảo luận nhóm về nội dung của bài học, HS được tăng thêm vốn từ, học được nhiều cách sử dụng bằng TV và quy tắc sử dụng TV theo các phong cách chức năng đã được dùng để viết ra chúng, do đó có nhiều cơ hội để ứng xử bằng TV thích hợp với những ngữ cảnh khác nhau.
- Khó khăn: Quỹ thời gian hạn hẹp. Với 35- 40 phút/tiết, GV đã giải quyết xong phần kiến thức, kỹ năng của nội dung còn phải tăng thêm phần tích hợp, lồng ghép. Thao tác của GV còn lúng túng, chưa nhuần nhuyễn, thiếu tự tin, còn gường ép nên dẫn đến cách hướng dẫn HS hoạt động chưa tích cực.


Phương pháp dạy HS lớp 1 nhanh biết đọc Tiếng Việt


 1. Một số vấn đề hình thành kỹ năng đọc viết cho học sinh lớp 1 theo chương trình sách giáo khoa (SGK) Tiếng Việt lớp 1 hiện nay 
Thực tế phương pháp dạy tập đọc ở nhà trường hiện nay chưa chú trọng đến cách dạy học sinh ghép âm vần theo hình thức xuôi - ngược, hầu như chỉ dạy học sinh cách ghép xuôi, cho nên để đọc được các vần có cấu trúc: Âm chính  + âm cuối -> vần [ac, im..] theo phương pháp nhà trường thì các em phải có đủ một khoảng thời gian rất dài sau quá trình đọc và ghép xuôi thuần thục.Cụ thể: theo chương trình dạy môn Tiếng Việt lớp 1 hiện hành trong nhà trường Tiểu học, đến bài 29 (của phần học vần SGK Tiếng Việt 1) học sinh mới được học các vần có cấu trúc [ Âm chính + âm cuối -> vần ] tức là ở tuần thứ 7 của học kỳ I của học sinh lớp 1 mới bắt đầu học vần. Như vậy, thời gian hình thành kỹ năng học vần và ghép các cấu trúc  âm tiết có từ 3 âm trở lên của học sinh lớp 1 như hiện nay chưa tạo điều kiện đủ cho học sinh có thời gian luyện tập kỹ năng đọc, viết tiếng Việt thuần thục lên mức kỹ xảo, để học sinh có thể triển khai mức độ đọc chữ thuần thục trên tất cả ngữ âm tiếng Việt. Cho nên hiện nay ở các trường Tiểu học nông thôn, những học sinh ở các khối lớp 1, 2, 4, 5 ( đặc biệt là học sinh Khmer) vẫn chưa đọc thông viết thạo tiếng Việt, đây là thực tế rất phổ biến.  
Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu chúng tôi nhận thấy rằng: Những học sinh đọc được vần ngược theo cấu trúc Âm chính + âm cuối [ a- c -> ac] thì hầu như các em đọc được tất cả các âm tiết có cấu trúc Âm đầu + vần + dấu thanhtrong tiếng Việt, chỉ khác nhau là mức độ đọc thuần thục ở mỗi em. Ngược lại, nếu những học sinh nào chưa hình thành được thao tác ghép âm vần theo cấu trúc Âm chính + âm cuối [ a- c -> ac] thì các em không thể đọc được các vần theo cấu trúc đó và càng không thể đọc được các chữ trong tiếng Việt có từ 3 âm trở lên theo cấu trúc [Âm đầu + vần + dấu thanh ].  
Từ đó chúng tôi có thể kết luận, trong quá trình dạy trẻ đọc nếu trẻ chưa nắm được phương pháp cấu trúc các âm tiết ở các dạng khái quát [Âm chính + âm đầu-> vần]; [Âm đệm + âm chính-> vần] thì các em sẽ không thể triển khai hành động đọc trên tất các âm tiết có cấu trúc [Âm đầu + vần + dấu thanh-> âm tiết ]. 
Như vậy, muốn trẻ em nhanh biết đọc người dạy cần xác định đúng tầm quan trọng của giai đoạn hình thành kỹ năng đọc và ghép âm tiết, phải  tổ chức cho các em làm việc trực tiếp với con chữ thông qua các hình thức cụ thể như hình thành thao tác đọc, thao tác ghép, phải lựa chọn phương pháp tối ưu nhất để đẩy nhanh tốc độ hình thành kỹ năng đọc và ghép âm tiết cho trẻ càng sớm càng tốt, thời gian còn lại trong năm học các em sẽ đủ điều kiện củng cố, tập luyện kỹ năng  đọc lên mức kỹ xảo.

Ảnh minh họa (Nguồn Internet)

2. Đề xuất phương pháp dạy học sinh  lớp 1 nhanh biết đọc biết viết tiếng Việt 
Để dạy học sinh học cách phát âm và cách ghép âm tiết đồng thời, chúng tôi sử dụng một bảng chữ cái tổng hợp làm phương tiện trực quan, cũng đồng thời là nội dung dạy học. Bảng chữ cái tổng hợp được thiết kế theo một số nguyên tắc nhất định, và người dạy cần phải vận hành đúng tinh thần của những nguyên tắc đó. Ưu điểm của cách dạy này là cùng một lúc, học sinh phát âm và ghép được rất nhiều âm tiết theo các cấu trúc khác nhau, từ dễ đến khó, hơn thế nữa, học sinh không chỉ dừng lại ở số lượng nắm được bao nhiêu âm, vần, tiếng, mà cái quan trọng là qua cách dạy theo phương pháp ngữ âm trực tiếp - tổng hợp này dựa cơ sở định hướng khái quát, học sinh sẽ nhanh chóng biết được cách phát âm, cách kết hợp các dạng  khái quát  theo các cấu trúc âm vần. Chẳng hạn như các dạng cấu trúc đơn giản Âm chính + âm cuối  ->  vần [ a - m ->  am], Âm đệm + âm chính  -> vần [ o - a  ®  oa] và các âm vần khó: Âm đệm + âm chính + âm cuối -> vần. Ngược lại nếu chúng ta dạy cho học sinh đọc chữ với mục đích  là cung cấp từng âm vần một, để học sinh học - nhớ các âm vần đó, theo hình thức tăng dần về số lượng tích lũy được thì đó chưa phải là phương pháp tối ưu để giúp học sinh nhanh biết đọc tiếng Việt. Vì trong tiếng Việt có hơn 115 âm tiết được xếp theo vần, nhưng không tính thành phần âm đệm khi sắp xếp, ví dụ vần [oa]. Như vậy trong một thời gian nhất định, chúng ta không thể cung cấp để học sinh nhớ hết số lượng các âm vần đó để triển khai các thao tác cần thiết đọc chữ, quan trọng hơn là dạy học sinh nắm được phương pháp chung nhất về đọc và ghép âm tiết, sau đó biết cách cụ thể hóa vào các tình huống riêng, cũng như biết triển khai đúng các thao tác của kỹ năng đọc chữ ở tất cả các ngữ âm tiếng Việt. Học sinh đạt được mức độ triển  khai thuần thục như vậy thì mới cho là biết đọc chữ.  
3. Kết luận 
Theo phương pháp đọc tiếng Việt hiện nay có nhiều điểm chưa đẩy nhanh tốc độ đọc chữ thuần thục ở học sinh:  
Thứ nhất: cách đọc chữ chủ yếu dạy học sinh ghép xuôi các âm tiết, ít chú ý đến  ghép ngược. Vì vậy, ở giai đoạn này học sinh chưa có kỹ năng đọc vần và phân tích cấu trúc các loại âm tiết. Cụ thể: ngay từ bài đầu ( Bài 1 SGK Tiếng Việt 1) các em được giới thiệu lần lượt các âm, vần cụ thể e, b, … cho đến hết bài 26 thì học sinh mới nhận biết được hết 29 chữ cái trong bảng chữ cái tiếng Việt in ở trang đầu SGK Tiếng Việt lớp 1, qua bài 29 thì các em mới được học từng vần, cụ thể; Bài 29 học sinh học vần  [ ia ]..  Như vậy, để phát âm được các âm vần có cấu trúc Âm chính + âm cuối -> vần [ac, am, at..] thì theo chương trình học tiếng Việt của học sinh lớp một phải đến tuần thứ 7, các em mới có thể cấu trúc các âm tiết. Trong khi đó, ở tuần thứ nhất, theo phương pháp của chúng tôi đã bắt đầu thực hiện.  
Thứ hai: việc sử dùng nhiều tranh ảnh trong giai đoạn phát âm và ghépvần, ở SGK Tiếng Việt 1 như hiện nay, sẽ dẫn đến hiện tượng học sinh nhìn tranh - đọc chữ, đây là tính chất đặc trưng khi dạy trẻ mẫu giáo lớn, chính điểm này dẫn đến tình trạng học vẹt của học sinh Tiểu học ở đầu cấp. Đây cũng là một trong những yếu tố dẫn đến tình trạng phổ biến ở những học sinh đã học xong chương trình lớp một nhưng  chậm biết đọc tiếng Việt.